1.1. Lý do và sự cần thiết lập quy hoạch
Theo Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024 (sau đây gọi tắt là QHC 2024), khu vực nghiên cứu lập Quy hoạch phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – Phân đoạn 3 (từ Đại lộ Thăng Long đến trục đường Ngọc Hồi – Phú Xuyên) nằm trong khu vực định hướng đô thị mở rộng phía Tây và Nam thuộc vùng đô thị phía Nam sông Hồng (trên địa bàn quận Hà Đông, các huyện Hoài Đức, Thanh Oai trước đây; sau 1/7/2025 là các phường Yên Nghĩa, Phú Lương, Chương Mỹ và các xã An Khánh, Bình Minh, Tam Hưng) của thành phố Hà Nội với định hướng tổng thể là phân vùng đô thị phát triển mới, nén theo mô hình TOD, cao tầng, mật độ xây dựng thấp, nhiều không gian xanh, tăng cường tiện ích đô thị theo hướng đa cực đa trung tâm. Phát triển đô thị với những chức năng đô thị đặc thù nhằm tạo ra các trung tâm phụ giảm tải cho đô thị trung tâm; hỗ trợ khu vực nội đô về nhà ở, dịch vụ thương mại, kinh tế, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất đô thị. Đây là khu vực cửa ngõ phía Tây của Đô thị trung tâm theo hướng từ Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 6 và phía Nam của Đô thị trung tâm theo hướng trục đường Ngọc Hồi – Phú Xuyên, kết hợp với các Phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 đoạn 2, đoạn 4 thành chuỗi đô thị phía Tây Vành đai 4 thuộc vùng đô thị phía Nam sông Hồng.
Thực tế cho thấy, vị thế của Thủ đô nói riêng và của Việt Nam nói chung ngày càng được nâng cao trên mọi lĩnh vực quốc tế, tạo nhiều cơ hội cho phát triển. Với vai trò là thủ đô của cả nước, một trong hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, nơi tập trung các cơ quan đầu não của Trung ương, trụ sở chính của các công ty, tập đoàn trong nước và quốc tế, Hà Nội luôn là tâm điểm thu hút các hoạt động đầu tư phát triển. Tuy nhiên hình thái đô thị tổng thể của Hà Nội còn nhiều bất cập, khi không gian xây dựng đô thị nông thôn bị thay đổi nhanh chóng, lộn xộn, chất lượng thấp; mạng lưới hạ tầng khung chậm hoàn thành, dẫn tới các bất cập trong công tác quản lý và xây dựng đô thị; chất lượng sống tại các khu ở trong các quận nội đô nhanh chóng xuống cấp, không đáp ứng tương xứng với vị thế của một đô thị tiêu chuẩn.
Vì những lý do đó, việc lập Quy hoạch phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4, với cả 4 phân đoạn nghiên cứu nói chung và với phân đoạn 3 (từ Đại lộ Thăng Long đến trục đường Ngọc Hồi – Phú Xuyên) nói riêng, là cần thiết và cấp bách. Nhằm cụ thể hoá đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đáp ứng kịp thời những yêu cầu thực tiễn về đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, cũng như công tác quản lý xây dựng đô thị trên địa bàn; cũng như làm công cụ quản lý quy hoạch của các cấp và làm cơ sở triển khai các dự án đầu tư xây dựng theo quy hoạch.
1.2. Cơ sở lập quy hoạch
1.2.1. Cơ sở pháp lý
–
Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
–
Luật Thủ đô số 25/2012/QH13 ngày 21/11/2012;
nội dung về Quy hoạch xây dựng; Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BXD ngày 22/11/2019 của Bộ Xây dựng về Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng;
–
Luật Kiến trúc 40/2019/QH14 ngày 13/6/2019; Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kiến trúc;
–
Luật đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024; Nghị định 71/2024/NĐ-CP ngày 27/06/2024; Nghị định 104/2024/NĐ-CP ngày 31/07/2024;
–
Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27/11/2023;
–
Luật Di sản văn hoá số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024;
–
Luật Điện lực số 61/2024/QH15 ngày 30-11-2024;
–
Luật Viễn thông số 24/2023/QH15 ngày 24 tháng 11 năm 2023;
–
Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020;
–
Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 ngày 29/11/2024;
–
Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 ngày 27/11/2023;
–
Các Luật: Trồng trọt, Chăn nuôi, Thủy sản, Thủy lợi, Lâm nghiệp, Đê điều và Phòng, chống thiên tai, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều số 60/2020/QH14;
–
Nghị định 145/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 Quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn;
–
Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 20/09/2021 của Thành ủy về chủ trương triển khai Dự án xây dựng tuyến đường Vành đai 4 – Vùng thủ đô;
–
Nghị quyết số 56/2022/QH15 ngày 16/06/2022 của Quốc hội về chủ trương triển khai Dự án xây dựng tuyến đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô;
–
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kết luận số 80-KL/TW ngày 24/5/2024 của Bộ Chính trị về Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065;
–
Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025;
–
Thông tư số 16/2025/TT-BXD ngày 30/6/2025 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn;
Quyết định số 38/2023/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND Thành phố ban hành quy định một số nội dung về quản lý quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và kiến trúc trên địa bàn thành phố Hà Nội;
–
Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065;
–
Quyết định số 56/QĐ-UBND ngày 06/01/2025 của UBND Thành phố về việc điều chỉnh một số nội dung tại Quyết định số 4343/QĐ-UBND ngày 20/8/2024 của UBND Thành phố về việc Bổ sung danh mục, kế hoạch lập các quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn Thành phố;
–
Quyết định số 2315/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của UBND thành phố Hà Nội về việc Phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – Phân đoạn 3 (từ Đại lộ Thăng Long đến trục đường Ngọc Hồi – Phú Xuyên), tỷ lệ 1/2.000.
1.2.2. Cơ sở về quy chuẩn, tiêu chuẩn
–
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng – QCXDVN 01:2021/BXD (ban hành kèm theo Thông tư số 01/2021/QĐ-BXD ngày 19/5/2021 của Bộ Xây dựng);
–
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị – QCVN 07:2023/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật (ban hành kèm theo thông tư số 15/2023/TT-BXD ngày 29/12/2023 của Bộ Xây dựng).
–
Thông tư số 16/2025/TT-BXD ngày 30/6/2025 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn;
–
Các quy chuẩn, tiêu chuẩn chuyên ngành của Việt Nam và những tài liệu khác có liên quan.
1.2.3. Cơ sở số liệu, tài liệu, bản đồ
–
Hồ sơ đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065;
–
Các quy hoạch ngành, chuyên ngành, đồ án, dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt có liên quan;
–
Niên giám, số liệu thống kê, các tài liệu do các cơ quan ban ngành thành phố Hà Nội, các đơn vị hành chính xã, phường thuộc khu vực nghiên cứu cung cấp;
–
Các tài liệu và số liệu khảo sát điều tra hiện trạng, các tài liệu, số liệu kinh tế xã hội của thành phố và ngành có liên quan.
–
Hồ sơ các quy hoạch, dự án phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật có liên quan trên địa bàn;
–
Các bản đồ đo đạc tỉ lệ 1/2.000…, bản đồ vệ tinh.
1.3. Mục tiêu lập quy hoạch
–
Bám sát, phân tích thực thi các nhiệm vụ theo định hướng Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia
thời kỳ 2021
-2023, tầm nhìn đến năm 2050: “Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng kết nối đồng bộ, hiện đại, bao gồm các trục từ Hà Nội kết nối Với các đô thị lớn của vùng, các đường Vành đai 4, Vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt vành đai phía Đông thành phố Hà Nội, thúc đẩy liên kết và lan tỏa phát triển kinh tế – xã hội cho cả khu vực phía Bắc. Hình thành các vành đai công nghiệp, đô thị, dịch vụ dọc theo các đường Vành đai 4, Vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội”.
–
Cụ thể hóa Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024: Khu vực lập Quy hoạch phân khu đô thị là khu vực phát triển đô thị mở rộng nằm trong “Khu vực đô thị mở rộng phía Tây và Nam”, là đô thị xanh, sinh thái, hiện đại. Phải đảm bảo sự gắn kết đồng bộ, kết nối giao thông thuận lợi giữa chuỗi đô thị phía Đông và chuỗi đô thị phía Tây đường Vành đai 4 (phát triển đô thị tuyến tính).
–
Xác định phạm vi, ranh giới, diện tích, quy mô đất đai, dân số [dân số dự báo, xác định phải bao gồm cả dân số vãng lai tại các khu đất ở và các khu đất xây dựng các công trình hỗn hợp có yếu tố ở bao gồm cả dịch vụ lưu trú (nếu có)] và các chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị; các yêu cầu phát triển đối với các khu vực cải tạo, khu vực bảo tồn (nếu có), khu vực xây dựng mới phù hợp với Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
–
Quy hoạch phát triển không gian đô thị theo hướng đô thị nén, cao tầng xung quanh khu vực ga đường sắt đô thị (mô hình TOD). Hình thành các vùng đệm bảo vệ xung quanh các làng xóm hiện hữu, kiểm soát sự phát triển đô thị hóa và gia tăng mật độ tại các làng xóm hiện hữu. Phát triển cụm công nghiệp sạch, hỗ trợ…;
–
Xây dựng các khu đô thị hiện đại, bổ sung các chức năng hạ tầng kinh tế – đô thị, đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực.
–
Quy hoạch theo hướng gìn giữ, cải tạo, chỉnh trang (nếu cần thiết) các hồ, ao, đầm không được san lấp trên địa bàn Thành phố (theo Danh mục được UBND Thành phố phê duyệt). Không quy hoạch đất trường học, công cộng vào khu vực nghĩa trang hiện hữu; không tính chỉ tiêu đất cây xanh quy hoạch trên nền nghĩa trang hiện hữu vào chỉ tiêu cây xanh phục vụ dân cư.
–
Xác định các nguyên tắc, yêu cầu tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đối với các khu vực chức năng, các không gian đặc trưng và cấu trúc đô thị, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững. Xác định khung kết cấu hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đề xuất các hạng mục ưu tiên đầu tư và nguồn lực thực hiện.
–
Thống kê, rà soát các quy hoạch đô thị, nông thôn các cấp độ đã thực hiện để xác định các nội dung còn phù hợp, kế thừa phát triển, thực hiện phù hợp với Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
–
Đồ án quy hoạch phân khu được phê duyệt là cơ sở để xác định các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị và lập quy hoạch chi tiết.
1.4. Phạm vi, quy mô lập quy hoạch
a.
Vị trí, phạm vi, ranh giới nghiên cứu lập quy hoạch
Vị trí khu vực lập quy hoạch trong Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội
đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065
Vị trí sau ngày 1/7/2025:
Thuộc địa giới hành chính các phường: Yên Nghĩa, Phú Lương; và các xã: An Khánh, Bình Minh, Tam Hưng, Thành phố Hà Nội.
Phạm vi ranh giới nghiên cứu sau ngày 1/7/2025:
–
Phía Bắc trùng tuyến đường Đại lộ Thăng Long và ranh giới Quy hoạch phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – phân đoạn 2.
–
Phía Đông Bắc giáp ranh giới các Quy hoạch phân khu đô thị S3, S4 và GS.
–
Phía Tây trùng ranh giới hành chính xã Quốc Oai, xã Hưng Đạo; đất nông nghiệp phường Chương Mỹ; sông Đáy và ranh giới đô thị trung tâm xác định theo đồ án Quy hoạch chung.
–
Phía Tây Nam tiếp giáp đất nông nghiệp và dân cư hiện trạng tại các xã Bình Minh, Tam Hưng.
–
Phía Đông trùng ranh giới hành chính xã Thường Tín.
b.
Quy mô diện tích lập quy hoạch khoảng: 4.980 ha.
2. HIỆN TRẠNG KHU VỰC QUY HOẠCH
2.1. Vị trí và các mối liên hệ vùng
Phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – phân đoạn 3 nằm trong địa giới hành chính thuộc các phường Yên Nghĩa, Phú Lương; và các xã: An Khánh, Bình Minh, Tam Hưng, Thành phố Hà Nội. Đây là phân đoạn then chốt thuộc khu vực phía Tây Vành đai 4, có tổng diện tích khoảng 4.980 ha.
Phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – phân đoạn 3 đóng vai trò chiến lược trong cấu trúc không gian đô thị Hà Nội, thể hiện qua ba khía cạnh chính:
– Thứ nhất, là cửa ngõ kết nối quan trọng giữa khu vực nội đô lịch sử với các vùng đô thị mở rộng phía Tây. Vị trí này cho phép phân khu trở thành điểm trung chuyển các luồng giao thông, dịch vụ và kinh tế từ trung tâm ra các khu vực ngoại vi và ngược lại. Sự kết nối này không chỉ về mặt hạ tầng giao thông mà còn về không gian văn hóa – xã hội, tạo ra sự chuyển tiếp hài hòa giữa khu vực trung tâm có mật độ xây dựng cao với các khu vực phát triển mới.
– Thứ hai, tạo thành “bản lề” chuyển tiếp giữa khu vực đô thị hóa cao và các không gian xanh, nông nghiệp ngoại thành. Đặc điểm này thể hiện rõ qua sự đan xen giữa các khu dân cư đô thị với các vùng đất nông nghiệp, mặt nước và không gian xanh hiện hữu. Phân khu có nhiệm vụ cân bằng giữa nhu cầu phát triển đô thị và bảo tồn các giá trị cảnh quan tự nhiên, tạo ra một mô hình đô thị sinh thái bền vững.
– Thứ ba, đóng vai trò then chốt trong cấu trúc “vành đai xanh” điều tiết khí hậu và sinh thái cho toàn đô thị. Với hệ thống sông Đáy, sông Nhuệ và các kênh rạch hiện hữu, cùng với các không gian xanh được quy hoạch, phân khu góp phần tạo ra các “hành lang gió” tự nhiên, điều hòa vi khí hậu đô thị, đồng thời hình thành các tuyến kết nối sinh thái xuyên suốt. Các không gian xanh – mặt nước này không chỉ có giá trị về môi trường mà còn tạo ra các không gian công cộng chất lượng cao phục vụ cộng đồng.
Ba yếu tố trên kết hợp với nhau tạo nên một không gian đô thị đa chức năng, linh hoạt, có khả năng thích ứng cao với các biến đổi và nhu cầu phát triển trong tương lai, đồng thời vẫn duy trì được bản sắc riêng của vùng đất chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn.
Về mặt kinh tế – xã hội, phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – phân đoạn 3 đảm nhận vai trò kết nối các trung tâm kinh tế quan trọng của thành phố, bao gồm các cụm công nghiệp và trung tâm thương mại hiện hữu. Dọc theo trục Vành đai 4, phân khu sẽ hình thành tuyến dịch vụ – thương mại mới, bổ trợ hiệu quả cho hệ thống trung tâm hiện có, đồng thời tạo ra các cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Một trong những chức năng quan trọng của khu vực là tiếp nhận và phân bổ dân cư từ khu vực nội đô theo chủ trương giãn dân, góp phần giảm tải cho các khu vực trung tâm và hình thành cộng đồng dân cư mới với đầy đủ tiện ích và dịch vụ đô thị.
Về mặt hạ tầng kỹ thuật, phân khu được xác định là trục huyết mạch kết nối hệ thống giao thông vùng, tạo liên kết thuận lợi giữa các quốc lộ và đường cao tốc quan trọng. Vị trí chiến lược này đặt phân khu vào hành lang dịch vụ – kỹ thuật quan trọng của thành phố, nơi tập trung các tuyến hạ tầng kỹ thuật then chốt. Đặc biệt, khu vực đóng vai trò trung chuyển trong hệ thống cấp nước, thoát nước và năng lượng, góp phần đảm bảo an ninh hạ tầng cho sự phát triển bền vững của toàn vùng.
Về mặt sinh thái – môi trường, phân khu nằm trong hành lang xanh kết nối hệ thống sông Đáy – sông Nhuệ, tạo thành một mạng lưới sinh thái quan trọng. Khu vực đóng vai trò then chốt trong hệ thống thoát nước tự nhiên và điều hòa khí hậu đô thị, đồng thời kết nối các không gian sinh thái quan trọng của vùng Thủ đô. Sự hiện diện của các hệ thống mặt nước và không gian xanh không chỉ góp phần cải thiện chất lượng môi trường mà còn tạo ra các không gian công cộng giá trị phục vụ cộng đồng.
Với những vai trò đa dạng và quan trọng trên, phân khu đô thị phía Tây Vành đai 4 – phân đoạn 3 được xác định có vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển không gian đô thị Hà Nội theo hướng bền vững, cân bằng hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, hướng tới mục tiêu xây dựng một đô thị hiện đại, thích ứng và có chất lượng sống cao.
2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.2.1. Địa hình tự nhiên
Khu vực lập quy hoạch là vùng chuyển tiếp giữa nội đô Hà Nội với vùng ngoại thành về phía Tây Nam, địa hình mang những đặc trưng của vùng đồng bằng ven sông. Cao độ nền có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam hướng ra các sông, kênh mương tiêu chính. Hiện nay phần lớn khu vực là vùng thấp, thường bị ngập úng vào mùa mưa. Với vị trí ven sông và ngăn cách bởi đê sông, khi lượng nước từ các kênh tiêu từ nội đô thoát ra lưu vực sông Đáy, sông Nhuệ bị ứ đọng, gây ảnh hưởng tới cơ sở hạ tầng, đời sống của người dân.
Cụ thể chia làm các vùng sau:
– Khu vực bãi sông ngoài đê tả Đáy: Thấp dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở các khu dân cư Vân Côn với cao độ từ 9,0-15,0m. Khu dân cư Yên Nghĩa từ 8,5-10,0m. Còn lại các khu vực ruộng canh tác có cao độ từ 4,5-8,0m; khu vực lòng sông hiện nay bồi lắng ở cao độ >3,5m
– Khu vực trong đê tả Đáy có cao độ thấp hơn so với bãi sông. Địa hình dốc dần từ Bắc xuống nam và từ Tây sang đông ra các kênh nội đồng, ra sông Nhuệ. Cao độ cao nhất 10,5m và thấp dần tới những khu vực chỉ từ 2-3m.
Nhìn chung, địa hình tự nhiên khu vực là một hệ sinh thái nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước các tác động của đô thị hóa. Mọi sự phát triển cần dựa trên nền tảng sinh thái, tôn trọng đặc điểm tự nhiên vốn có, biến thách thức thành cơ hội để tạo lập một mô hình đô thị bền vững và có bản sắc.
2.2.2. Đặc điểm khí hậu
Khu vực nghiên cứu cùng chung với khí hậu của Thành phố Hà Nội, trong vùng bị ảnh hưởng của khí hậu gió mùa:
– Nhiệt độ trung bình là: 23,4ºC. Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 28,7ºC. Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 16,6ºC;
– Độ ẩm không khí trung bình năm: 84%;
– Lượng mưa trung bình hằng năm là: 1.670mm;
– Số giờ nắng trung bình năm: 1.640 giờ;
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt:
– Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10):
+ Nóng ẩm, mưa nhiều: Đây là đặc điểm nổi bật. Nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm lớn (trung bình 80-85%) từ biển Đông thổi vào gây cảm giác oi bức khó chịu.
+ Tác động khuếch đại do địa hình: Vùng trũng, ít thông thoáng, kết hợp với mật độ xây dựng ngày càng dày đặc đã hình thành “hiệu ứng đảo nhiệt đô thị” cục bộ. Nhiệt độ trong các khu dân cư có thể cao hơn vùng nông thôn xung quanh từ 1-2°C.
+ Mưa lớn tập trung và nguy cơ ngập lụt cực đoan: Lượng mưa lớn tập trung trong mùa này là yếu tố then chốt. Khi kết hợp với địa hình thấp trũng và hệ thống thoát nước quá tải, hiện tượng ngập úng cục bộ xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng. Mưa lớn cũng làm tăng áp lực lên hệ thống đê điều khi lũ từ thượng nguồn sông Đáy, sông Nhuệ đổ về.
– Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau):
+ Lạnh, khô hanh: Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô lạnh.
+ Hiện tượng nghịch nhiệt và sương mù cục bộ: Địa hình thấp trũng, gần sông hồ khiến khu vực dễ xảy ra hiện tượng nghịch nhiệt vào những đêm đông lạnh, không khí lạnh bị giữ lại ở dưới thấp, gây ra sương mù dày đặc. Điều này ảnh hưởng đến an toàn giao thông và chất lượng không khí cục bộ.
Gió: Chế độ gió chịu sự chi phối của hai hướng gió mùa chính: Đông Nam (mùa hè) và Đông Bắc (mùa đông). Sự hiện diện của sông Đáy tạo thành một “hành lang
gió” tự nhiên, có thể khai thác để thông gió, giảm bớt hiệu ứng đảo nhiệt cho các khu vực đô thị nếu được quy hoạch các không gian mở đón gió hợp lý.
2.2.3. Địa chất thủy văn
Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ thủy văn của sông Đáy, sông Nhuệ và các kênh nội đồng.
Sông Đáy dài 237 km, đoạn qua khu vực nghiên cứu dài khoảng 20km và chịu sự điều tiết của đập Đáy. Mang đặc thù của sông đồng bằng với độ dốc dọc nhỏ, nhưng bề rộng thay đổi và mở rộng tùy theo từng đoạn, tuy nhiên đoạn qua khu vực nằm ở km15-km35 từ khi có đập Đáy thì mực nước bị hạ thấp và bồi lắng. Chỉ nhận được dòng chảy từ các kênh, là trục tiêu chính trong mùa lũ, lòng và bãi sông biến đổi mạnh về chiều rộng.
Sơ đồ hệ thống thủy văn toàn thành phố và khu vực quy hoạch
Năm 1937, sau khi xây dựng đập Đáy, nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ từ km 0 đến Ba Thá dài 11 km, sông Đáy thường xuyên cạn nước.
Nước cho sông Đáy sau đó chủ yếu do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ
Chế độ dòng chảy tương đối phức tạp, vừa chịu ảnh hưởng của sông Hồng vừa chịu ảnh hưởng các sông nội địa và ảnh hưởng của thủy triều. Việc tiêu nước trên địa bàn TP Hà Nội dùng động lực là chính, chỉ có một số khu vực miền núi, trung du và giáp biển là có thể tự chảy vì lợi dụng được độ dốc và thuỷ triều.
– Sông Nhuệ giáp phía đông khu quy hoạch, hướng dòng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nối liền với sông Hồng qua cống Liên Mạc, với sông Đáy qua cống Lương Cổ. Sông là trục chính tưới tiêu kết hợp của hệ thống thủy nông liên tỉnh. Trong quá trình tiêu úng, mực nước sông Nhuệ luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của mực nước lũ sông Đáy.
2.2.4. Địa chất công trình
Qua các tài liệu quy hoạch ngành và thực tế xây dựng, sơ bộ đánh giá điều kiện địa chất của khu vực sau:
Khu vực nghiên cứu chạy dọc sông Đáy – thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Do quá trình chuyển động kiến tạo đã qua với các kỳ Permier, Trias, Đệ tam, Đệ tứ; cùng với tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, nhiệt độ, nắng, ẩm, mưa làm phong hoá tạo ra nền địa chất manh thạch, đất đai không đồng nhất trên toàn bộ lưu vực sông. Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành, trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng vùng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một đồng bằng rộng lớn ngập nước đó là đồng bằng sông Hồng trong đó có phần thuộc lưu vực sông Đáy.
Khu vực phía nam mang đặc điểm của nền địa chất sông Nhuệ. Sông dài 74Km nối liền sông Hồng qua cống Liên Mạc và với sông Đáy qua cống Lương Cổ (Hà Nam), là trục tưới tiêu kết hợp của hệ thống. Về tổng thể nền địa chất của hầu hết các khu vực trên hệ thống sông Nhuệ đều rất yếu (khu vực phía Bắc về cơ bản tốt hơn phía Nam) vì vậy cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn và cát chảy đối với các công trình xây dựng.
2.2.5. Địa chất thủy văn
Trong nghiên cứu địa chất thuỷ văn, khu vực Hà Nội có 3 phức hệ chứa nước chính.
Phức hệ Pliocen-Pleistocen (N2-Q1), nước ngầm có áp được chứa trong tầng đá nứt nẻ.
Phức hệ Pleistocen giữa và trên (Q1 2-3 – tầng chứa nước qp), nước ngầm có áp được chứa trong tầng cát cuội sỏi.
Phức hệ chứa nước lỗ hổng (Q2 – tầng chứa nước qh).
Vùng địa chất thủy văn này phía tây giới hạn bởi sông Đáy, phía đông là Sông Nhuệ chảy theo hướng Bắc nam. Điạ hình của phụ vùng này khá phẳng và có độ cao nhỏ; đồng thời do quy luật trầm tích của sông Hồng và sông Đáy nên địa hình khá trũng thường xuyên bị ngập úng trong mùa mưa. Thêm vào đó, hệ thống đê sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ cùng với hệ thống các đường giao thông đã chia phụ vùng này thành các ô trũng.
Vào mùa mưa nước các sông đều cao hơn mặt đồng bằng nên việc thoát nước mưa của phụ vùng này càng khó khăn và phức tạp. Sông Nhuệ là sông đào chạy từ Liên Mạc qua lại Hà Nội theo hướng gần Bắc Nam dọc Theo phụ vùng vừa có nhiệm vụ thoát
nước và tưới cho nông nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, do tiếp nhận một nước khá lớn của khu vực nội thành Hà Nội nên hiện nay sông Nhuệ đoạn chảy qua phụ vùng đã bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Về cấu trúc cơ bản có bề dầy các tầng chứa nước và cách nước trong trầm tích Đệ Tứ lớn hơn các khu vực khác do có xu hướng chìm dần về phía nam nên tầng chứa nước Neogen nằm sâu hơn. Thành tạo đa nguồn gốc Holocen khá phức tạp, trên cùng thường là lớp sét, sét bột trừ khu vực sát các sông; phía dưới là các tập cát, bột sét xen kẹp nhau phức tạp nên tạo thành nhiều lớp chứa nước không liên tục phân bố ở các độ sâu khác nhau từ 10 đến 30-40m nhiều nơi tồn tại các thấu kính bùn sét chứa nhiều vật chất hữu cơ, có nơi chứa khí metan, nhân dân đã khai thác để đun nấu.
Do tính phức tạp đó nên nước trong tầng chứa nước này có mức độ chứa nước cũng như thành phần hóa học của nước biến đổi phức tạp. Đặc biệt ở phần nam của phụ vùng thuộc khu vực huyện Phú Xuyên và nam Ứng Hòa nước mặn nhạt xen kẽ nhau và thường rất nhiều sắt không thuận lợi cho ăn uống sinh hoạt cũng như tưới.
Các thành tạo sông, tuổi Pleistocen được ngăn cách khá tốt với thành tạo Holocen bởi lớp sét Vĩnh Phúc khá ổn định tạo nên tầng chứa nước có áp. Mực nước thường xấp xỉ mặt đất. Nước của tầng chứa nước Holocen được nước mưa cung cấp là chủ yếu, về mùa khô nước tưới trên các cánh đồng góp phần cấp cho tầng chứa nước này. Tầng chứa nước Pleistocen được cung cấp chủ yếu từ phía bắc do sông Hồng.
Trong điều kiện tự nhiên nước trong này vận động theo hướng TB-ĐN một cách chậm chạp. Tuy nhiên hiện nay do khu vực Hà Nội khai thác rất mạnh. Mực nước đã hạ thấp khá lớn và tạo nên phễu hạ thấp đến ngang Thường Tín nên có khả năng nước trong tầng Pleistocen di chuyển ngược lại. Sự dịch chuyển lên phía Bắc của ranh giới mặn nhạt có khả năng xảy ra cần phải có các công trình quan trắc để xác định.
Tầng chứa nước khe nứt-lỗ hổng vỉa neogen nằm lót đáy tầng chứa nước Pleistocen; đến nay trong phạm vi phụ vùng chưa có công trình nhiên cứu nào vào tầng chứa nước này. Theo các tài liệu chung thì phần trên của tầng chứa nước này có khả năng được ngăn cách với tầng chứa nước Pleistocen bởi các tập sét kết phong hóa, nước trong các tập chứa nước trên có thể bị mặn. Tuy nhiên, ở các độ sâu lớn hơn (khoảng vài trăm mét có khả năng gặp nước nhạt). Trên phạm vi phụ vùng này đã phát hiện một số khoảnh trong các trầm tích Holocen có chứa các thấu kính bùn sét giầu vật chất hữu cơ như Nam Thanh Trì, Nam và Tây Phú Xuyên, Nam Ứng Hòa. Cần phải được lưu ý vì các khoảng như vậy có khả năng gây ô nhiễm các tầng chứa nước trên dưới và quanh chúng khi khai thác
Về mặt thuỷ lực, nhiều nơi các tầng chứa nước thông với nhau và thông với nước mặt tạo lên sự phức tạp của động thái nước ngầm, đặc biệt với các vùng ven sông Hồng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến đê và các công trình xây dựng khác.
Sự bổ sung nước sông vào tầng nước có áp đã làm giảm sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm khu vực đó, mặc dù vẫn tồn tại tầng đất yếu. Sự gia tăng áp lực nước ngầm vào mùa lũ đã dẫn tới một loạt các sự cố về thấm và biến dạng thấm của nền đê.
Cấu trúc địa chất thủy văn thành phố Hà Nội nói chung tương đối đa dạng, từ các dạng tồn tại của nước dưới đất đến các đặc trưng về miền cấp, miền thoát và đa dạng cả về nguồn gốc của nước dưới đất.
Do vậy, công tác phân vùng địa chất thủy văn tương đối phức tạp. Trên cơ sở các các yếu tố quy mô, cấu trúc của các thể địa chất chứa nước, thành phần vật chất của đất đá chứa nước nó quyết định đặc điểm phân bố của nước dưới đất, cũng như đặc điểm cung cấp, dòng chảy và miền thoát của nước dưới đất;
Việc phân vùng này là cơ sở cho các công tác điều tra chi tiết, đánh giá tiềm năng nguồn nước, đánh giá và dự báo khả năng gây ô nhiễm và có kế hoạch khai thác bảo vệ nguồn nước bền vững.
2.3. Hiện trạng tài nguyên
2.3.1. Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên
a)
Tài nguyên đất
Tài nguyên đất nông nghiệp hiện đang suy giảm nghiêm trọng, diện tích đất trồng lúa, màu và ao hồ truyền thống đang bị thu hẹp nhanh chóng do chuyển đổi sang đất ở, đất xây dựng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Đây là sự mất mát về tài nguyên đất sản xuất, đồng thời làm suy giảm không gian thoát nước tự nhiên.
Quá trình đô thị hóa tự phát một phần dẫn đến hiện trạng Phân mảnh và manh mún không theo một quy hoạch tổng thể đồng bộ, gây khó khăn cho việc triển khai hạ tầng kỹ thuật đồng bộ (giao thông, thoát nước). Nguy cơ ô nhiễm tài nguyên đất tiềm tàng, một số khu vực đất có nguy cơ ô nhiễm do hoạt động làng nghề (tái chế, sản xuất vật liệu xây dựng) và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý.
Tài nguyên đất bị ảnh hưởng nhiều bởi quá trình Đô thị hóa
b) Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Hệ thống sông Đáy và mạng lưới kênh rạch trong khu vực đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD) và dinh dưỡng (N, P) ở mức cao. Các chỉ tiêu coliform vượt quy chuẩn nhiều lần, đặc biệt tại các khu vực tập trung dân cư đô thị hóa nhanh và cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Nguyên nhân chính:
–
Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung
–
Nước thải sản xuất từ các làng nghề và cụm công nghiệp
–
Nước rửa trôi từ hoạt động nông nghiệp
Nguồn nước ngầm: Chất lượng có dấu hiệu suy giảm tại một số khu vực, với biểu hiện nhiễm mặn cục bộ và ô nhiễm vi sinh. Nguy cơ ô nhiễm asen và kim loại nặng cần được tiếp tục quan trắc.
Tốc độ đô thị hóa nhanh tạo ra Áp lực khai thác nước ngầm, nhu cầu sử dụng nước ngầm gia tăng, gây áp lực lên tầng chứa nước. Dấu hiệu hạ thấp mực nước ngầm cục bộ đã xuất hiện, kéo theo nguy cơ sụt lún bề mặt.
Khu vực thường xuyên đối mặt với ngập úng đô thị khi có mưa lớn kết hợp triều cường, trong khi vẫn thiếu nước cho các nhu cầu sử dụng dẫn đến Nghịch lý ngập úng và thiếu nước. Các nguyên nhân chính:
–
Hệ thống thoát nước hiện hữu quá tải
–
Thiếu các hồ điều hòa và công trình trữ nước
–
Diện tích mặt nước, không gian thấm tự nhiên bị thu hẹp
c)
Tài nguyên khoáng sản
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu địa chất, bản đồ khoáng sản và khảo sát thực địa, có thể đánh giá về tiềm năng tài nguyên khoáng sản của khu vực như sau:
–
Loại hình chủ yếu: Khu vực quy hoạch chủ yếu tồn tại các nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường. Cụ thể:
–
Cát, sạn, cuội: Có thể phân bố dọc theo các lòng suối, bãi bồi cổ, với trữ lượng không lớn, chủ yếu ở dạng tiềm năng nhỏ lẻ.
–
Đất sét, gạch ngói: Xuất hiện tại một số vị trí, phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng quy mô địa phương trong lịch sử.
Đánh giá chung: Quy mô nhỏ, chất lượng trung bình: Các mỏ khoáng sản (nếu có) thường có quy mô nhỏ, phân tán, không tập trung thành mỏ lớn có giá trị kinh tế cao. Chất lượng không phải là đặc biệt. Không có khoáng sản kim loại hoặc năng lượng: Qua đánh giá bước đầu, khu vực không ghi nhận sự hiện diện của các mỏ khoáng sản kim loại (như sắt, đồng, chì, kẽm…) hay khoáng sản năng lượng (than đá, than bùn, dầu khí).
Định hướng khai thác và bảo vệ: Do tính chất quy mô nhỏ và nằm trong khu vực dự kiến phát triển đô thị, việc khai thác khoáng sản thương mại là không khuyến nghị. Các điểm mỏ nhỏ lẻ nếu tồn tại cần được khoanh vùng, đánh giá tác động môi trường kỹ lưỡng. Ưu tiên hàng đầu là bảo vệ cảnh quan, ổn định địa chất và sử dụng đất cho mục đích phát triển đô thị bền vững. Các vật liệu xây dựng cho giai đoạn thi công (nếu cần) nên được lấy từ các mỏ có quy mô công nghiệp ngoài khu vực để đảm bảo chất lượng và quản lý môi trường.
d)
Tài nguyên khác (Năng lượng tái tạo)
Khu vực có tiềm năng đáng kể về các nguồn năng lượng tái tạo, mở ra cơ hội phát triển đô thị xanh, bền vững và tự chủ về năng lượng. Cụ thể:
Tài nguyên năng lượng mặt trời:
Tiềm năng cao: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, số giờ nắng trung bình năm lớn (có thể ước tính khoảng 1500 – 1700 giờ/năm trở lên), cường độ bức xạ mặt trời tốt. Đây là nguồn tài nguyên dồi dào, sạch và có thể khai thác rộng rãi.
Định hướng khai thác: Khuyến khích và quy hoạch lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời áp mái (solar rooftop) cho các công trình công cộng, thương mại và nhà ở dân cư. Có thể nghiên cứu xây dựng các trang trại năng lượng mặt trời (solar farm) quy mô vừa và nhỏ trên các vùng đất trống, ít hiệu quả sử dụng hoặc tích hợp với các hồ điều hòa. Hệ thống đèn chiếu sáng công cộng sử dụng năng lượng mặt trời nên được áp dụng rộng rãi.
Mô phỏng hệ thống pin năng lượng mặt trời áp mái cho các công trình trong khu vực. Với số giờ nắng cao quanh năm, đây là nguồn tài nguyên ưu tiên để phát triển đô thị xanh, tự chủ năng lượng
e)
Tài nguyên năng lượng gió
Tiềm năng ở mức trung bình đến thấp: Khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, ít có các hiệu ứng địa hình tạo ra gió mạnh tập trung. Tốc độ gió trung bình năm thường dưới ngưỡng kinh tế (dưới 5-6 m/s) cho các tua-bin gió công nghiệp quy mô lớn.
Định hướng khai thác: Tiềm năng chủ yếu nằm ở việc khai thác các hệ thống điện gió cỡ nhỏ, phân tán. Có thể nghiên cứu lắp đặt các tua-bin gió trục đứng công suất nhỏ để cung cấp bổ sung năng lượng cho các công trình điểm nhấn, khu vực công cộng, góp phần nâng cao nhận thức và tạo hình ảnh đô thị xanh. Cần có các số liệu đo đạc gió cụ thể tại chỗ (trong ít nhất 1 năm) để có đánh giá chính xác hơn.
Các nguồn tài nguyên khác:
Năng lượng sinh khối: Có tiềm năng từ phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, trấu…) nếu còn hoạt động sản xuất nông nghiệp trong vùng. Có thể nghiên cứu công nghệ khí sinh học (biogas) để xử lý chất thải hữu cơ từ chợ, nhà hàng, khu dân cư, vừa tạo năng lượng vừa giải quyết vấn đề môi trường.
Năng lượng địa nhiệt: Ở độ sâu nông, có thể ứng dụng các giải pháp bơm nhiệt (heat pump) để sưởi ấm hoặc làm mát cho các công trình, giảm tiêu thụ điện năng.
2.3.2. Hiện trạng tài nguyên xã hội
a) Dân số và lao động
Cơ cấu dân số tương đối trẻ, phần lớn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại nhỏ và sản xuất thủ công nghiệp. Cơ cấu lao động nông nghiệp đang giảm dần, song vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể tại các xã ven khu vực canh tác. Tỷ lệ tăng dân số cơ học tăng nhanh trong 5 năm gần đây do xu hướng di dân từ nội đô ra vùng ven và các dự án khu đô thị mới đang hình thành.
b) Hệ thống hạ tầng xã hội
Hạ tầng xã hội của khu vực đã được đầu tư từng bước, song vẫn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dân sinh trong giai đoạn đô thị hóa.
– phúc lợi cấp khu vực, đồng thời gắn kết phát triển hạ tầng xã hội với định hướng đô thị vệ tinh phía Tây Nam Hà Nội.
2.4. Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội
Về Nông nghiệp: Chủ yếu là trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả, xen kẽ trong các làng xóm và ven các kênh thuỷ lợi. Diện tích nông nghiệp đang dần bị thu hẹp do đô thị hoá, song vẫn còn những vùng chuyên canh rau màu, hoa cây cảnh phục vụ thị trường. Gặp nhiều khó khăn từ việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả kinh tế chưa cao; nguy cơ ô nhiễm từ chất thải sinh hoạt tác động đến môi trường đất và nước nông nghiệp.
Về Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – làng nghề: Có một số cụm công nghiệp, xưởng sản xuất quy mô nhỏ, kho bãi phân bố gần tuyến đường lớn; đồng thời vẫn tồn tại các làng nghề thủ công (mộc, cơ khí, chế biến nông sản). Tuy nhiên, sự xuất hiện của các cơ sở sản xuất xen cài trong khu dân cư gây áp lực môi trường; các cụm công nghiệp tập trung chưa đồng bộ hạ tầng; dịch vụ vận tải – tập kết vật liệu còn chiếm dụng đất nông nghiệp; hiệu quả sản xuất công nghiệp chưa cao, tiềm ẩn ô nhiễm bụi, tiếng ồn, nước thải.
Về Du lịch – dịch vụ: Các dịch vụ hiện tại chủ yếu là chợ dân sinh, dịch vụ buôn bán nhỏ, quán hàng ven đường, chưa hình thành trung tâm thương mại – dịch vụ quy mô khu vực. Xu hướng có thể phát triển dịch vụ thương mại, logistics, giáo dục – y tế chất lượng cao nhờ vị trí kết nối Vành đai 4, Đại lộ Thăng Long và các tuyến giao thông liên vùng. Tuy nhiên, du lịch tại phân đoạn 3 chưa rõ nét, song có thể kết hợp khai thác cảnh quan ven sông, làng truyền thống, lễ hội để tạo sản phẩm du lịch sinh thái – văn hóa.
Nhìn chung, khu vực gặp nhiều Thách thức: Kinh tế khu vực còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và các ngành nghề truyền thống, trong khi đó quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, gây áp lực chuyển đổi đất đai và môi trường. Sản xuất công nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, dịch vụ chưa phát triển, chưa tạo động lực mạnh cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với lợi thế có quỹ đất lớn, vị trí chiến lược dọc Vành đai 4, thuận lợi để hình thành các khu đô thị mới, trung tâm dịch vụ, công nghiệp sạch, giáo dục – y tế chất lượng cao. Do đó, Cần có định hướng phát triển bền vững, theo hướng đô thị sinh thái – kinh tế tri thức – dịch vụ thương mại gắn kết với không gian xanh và bảo tồn giá trị làng xóm truyền thống.
2.5. Hiện trạng dân số, lao động
2.5.1. Quy mô dân số
Về dân số: Dân số hiện trạng khu vực khoảng 122.241 người. Trong đó:
+ Khu vực xã An Khánh: khoảng 28.532 người;
+ Khu vực phường Yên Nghĩa: khoảng 43.277 người;
+ Khu vực xã Bình Minh: khoảng 29.233 người;
+ Khu vực xã Tam Hưng: khoảng 21.199 người.
2.5.2. Lao động
Trong bối cảnh đô thị hóa vùng ven diễn ra tương đối mạnh, nguồn lực lao động có đặc trưng cơ bản tương đồng với bối cảnh tổng thể của Thành phố.
+ Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng phi nông nghiệp diễn ra rõ rệt hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo VA hoặc theo GRDP. Nhìn chung trên địa bàn Hà Nội, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm và thủy sản giảm từ 23,1% năm 2010 xuống 11,6%, khoảng 11,5 % trong thời kỳ 2011 – 2020, khoảng 11,3% năm 2022; đa phần lao động rút lui khỏi khu vực này đã chuyển sang làm việc tại khu vực dịch vụ. Do đó, tỷ trọng lao động trong khu vực dịch vụ tăng nhanh từ 45,8% năm 2010 lên 56% năm 2020, khoảng 56,7% năm 2022 (tăng khoảng 10,9 điểm % trong thời kỳ 2010 – 2022), tỷ trọng lao động trong khu vực CNXD tăng nhẹ từ 31,2% lên 32,5% năm 2020 và khoảng 32% năm 2020.
+ Như vậy, trên địa bàn Thành phố nói chug, khu vực dịch vụ dù tập trung khoảng 56,7% lao động nhưng đang tạo ra gần 71% VA cho Hà Nội; ngược lại khu vực CNXD dù có đến 32% lao động nhưng chỉ tạo ra được gần 27% VA và khu vực nông nghiệp đang sử dụng đến 11,3% lao động song chỉ tạo ra được 2,3% VA.
2.6. Hiện trạng tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan
2.6.1. Hiện trạng kiến trúc công trình
Khu vực nghiên cứu là một ví dụ điển hình về sự giao thoa và xung đột giữa kiến trúc truyền thống làng xã và kiến trúc đô thị hiện đại tự phát. Đây là vùng chuyển tiếp, tạo nên một bức tranh kiến trúc đa dạng nhưng thiếu định hướng tổng thể.
– Khu vực lõi làng truyền thống:
+ Đặc điểm: Mật độ xây dựng dày đặc, tổ chức không gian theo cấu trúc “xương cá”. Các công trình nhà ở ống, nhà cấp 4 san sát, hướng vào các không gian công cộng truyền thống (đình, chùa, giếng làng).
+ Vật liệu, kết cấu: Sử dụng vật liệu địa phương (gạch, ngói), kết cấu chịu lực tường gạch, mái dốc lợp ngói ta hoặc ngói xi măng. Nhiều công trình có giá trị văn hóa, lịch sử nhưng xuống cấp.
Đây là khu vực có bản sắc kiến trúc rõ nét nhưng đang đối mặt với nguy cơ bị phá vỡ do nhu cầu cải tạo, xây mới của người dân.
– Khu vực ven các trục giao thông chính:
+ Đặc điểm: Kiến trúc hỗn tạp, chủ yếu là nhà ống đô thị với chiều cao từ 2-5 tầng. Mặt bằng kiến trúc chủ yếu khai thác thương mại, dịch vụ dọc tuyến.
+ Vật liệu, kết cấu: Chuyển sang sử dụng vật liệu hiện đại (bê tông cốt thép, kính, tấm ốp). Hiện tượng lấn chiếm vỉa hè làm không gian công cộng trở nên chật chội, mất an toàn.
Đây là khu vực thể hiện rõ nhất sự phát triển tự phát, thiếu kiểm soát về chiều cao, mật độ và kiến trúc mặt đứng, dẫn đến cảnh quan hỗn độn.
– Khu vực mở rộng, dự án mới:
+ Đặc điểm: Xuất hiện các cụm nhà ở liền kề, biệt thự được quy hoạch đồng bộ hơn. Tuy nhiên, kiến trúc thường sa vào chủ nghĩa hình thức, lai tạp nhiều phong cách (tân cổ điển, hiện đại) mà ít quan tâm đến bản sắc địa phương.
Nhận định: Tạo ra các “ốc đảo” kiến trúc khép kín, thiếu kết nối hài hòa với cảnh quan tự nhiên sông nước xung quanh.
Những vấn đề tồn tại chính:
– Sự xung đột và đứt gãy cảnh quan: Tồn tại sự tương phản mạnh giữa các cụm kiến trúc truyền thống thấp tầng, khép kín với các công trình cao tầng, hiện đại dọc trục giao thông, tạo nên bức tranh đô thị rời rạc, thiếu sự kế thừa và chuyển tiếp.
– Kiến trúc không thích ứng với điều kiện tự nhiên:
– Khí hậu: Phần lớn công trình mới xây dựng ít chú trọng giải pháp thông gió tự nhiên, che nắng, dẫn đến lạm dụng điều hòa không khí, tiêu tốn năng lượng.
Địa hình: Xu hướng san lấp mặt bằng, bê tông hóa đã phá vỡ hệ thống thoát nước tự nhiên và làm mất đi đặc trưng của vùng đất thấp trũng.
– Sự xuống cấp và mai một các công trình kiến trúc có giá trị: Các di sản kiến trúc (đình, chùa, miếu, nhà cổ) nằm xen kẽ trong khu dân cư đang bị xuống cấp và chưa được khai thác như những điểm nhấn trong không gian đô thị.
– Thiếu định hướng kiến trúc tổng thể: Chưa có các quy chế quản lý kiến trúc rõ ràng về chiều cao, màu sắc, vật liệu, tỷ lệ công trình, dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy xây”.
Định hướng đề xuất:
– Bảo tồn và phát huy có chọn lọc: Cần xác định các “vùng lõi cảnh quan kiến trúc” cần được bảo tồn (các làng truyền thống), kết hợp với cải tạo nâng cấp điều kiện sống.
– Phát triển kiến trúc địa phương đương đại: Khuyến khích một ngôn ngữ kiến trúc mới kế thừa tinh thần của kiến trúc truyền thống (mái hiên, sân trong, vật liệu địa phương cách tân) nhưng ứng dụng công nghệ và vật liệu hiện đại, phù hợp với khí hậu nhiệt đới.
– Quy hoạch kiến trúc cảnh quan tổng thể: Thiết lập các quy chế quản lý kiến trúc cho từng phân khu chức năng, đặc biệt chú trọng đến các tuyến nhìn ra sông, tạo lập các hành lang cảnh quan kết nối không gian xanh – không gian kiến trúc.
Kết luận: Hiện trạng kiến trúc khu vực phản ánh một quá trình phát triển thiếu tầm nhìn dài hạn. Giá trị cốt lõi cho tương lai nằm ở việc tạo dựng một bản sắc kiến trúc mới, vừa hiện đại, vừa thích ứng với khí hậu, vừa hài hòa với cảnh quan sông nước và kế thừa được các giá trị văn hóa bản địa.
2.6.2. Cảnh quan sinh thái tự nhiên
Khu vực nghiên cứu phía Tây có sông Đáy chảy qua, là khu vực có nhiều yếu tố cảnh quan đẹp và đa dạng, nhiều kênh mương, hồ, mặt nước nối kết, xen lẫn vùng không gian cây xanh nông nghiệp sinh thái, sẽ đóng vai trò quan trọng để tạo cảnh quan đô thị, phát triển không gian xanh kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái theo mô hình công nghệ cao giảm thiểu tác hại cho môi trường.
Hệ thống cảnh quan sông Đáy chảy qua là vị trí thuận lợi phát triển các không gian du lịch ven sông, các tuyến giao thông đường thủy kết hợp du lịch, phát triển không gian theo mô hình sinh thái, bền vững.
Một số di tích đình chùa nằm gắn liền với các thôn xóm, các cụm làng xóm với đặc trưng kiến trúc của vùng Bắc Bộ.
Nhìn chung khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển đô thị. Cơ sở giải pháp quy hoạch hợp lý, mang lại hiệu quả các thế mạnh của vùng.
2.7. Hiện trạng Sử dụng đất
Tổng diện tích khu vực quy hoạch khoảng 4.980 ha, thuộc địa bàn các xã An Khánh, Bình Minh, Tam Hưng và các phường Yên Nghĩa, phường Phú Lương.
Bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng đất đai khu vực lập quy hoạch
| TT | Hạng mục đất | Diện tích (ha) | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| Tổng khu quy hoạch | 4.980,00 | 100 | |
| 1 | Đất nhóm nhà ở | 943,64 | 18,95 |
| 1.1 | Đất nhóm nhà ở hiện trạng | 270,47 | |
| 1.2 | Đất làng xóm, dân cư nông thôn | 610,58 | |
| 2 | Đất y tế | 1,35 | 0,03 |
| 3 | Đất văn hóa | 3,59 | 0,07 |
| 4 | Đất giáo dục | 38,36 | 0,77 |
| 4.1 | Đất đào tạo, nghiên cứu | 6,55 | |
| 4.2 | Đất trường THPT | 2,15 | |
| 4.3 | Đất trường THCS, Tiểu học, Mầm non | 29,66 | |
| 5 | Đất TDTT | 1,13 | 0,02 |
| 6 | Đất cây xanh sử dụng công cộng | 2,64 | 0,05 |
| 7 | Đất hỗn hợp địa phương | 33,05 | 3,50 |
| 8 | Đất sản xuất công nghiệp, kho bãi | 11,74 | 0,24 |
| 9 | Đất dịch vụ công cộng cấp đô thị | 5,85 | 0,12 |
| 10 | Đất di tích, tôn giáo | 43,71 | 0,88 |
| 11 | Đất an ninh | 0,65 | 0,01 |
| 12 | Đất quốc phòng | 3,26 | 0,07 |
| 13 | Đất giao thông | 291,29 | 6,51 |
| 14 | Đất nghĩa trang | 50,89 | 1,02 |
| 15 | Đất hạ tầng kỹ thuật khác | 15,85 | 0,32 |
| 16 | Đất sản xuất nông nghiệp | 3.253,67 | 65,33 |
| 17 | Đất nuôi trồng thủy sản | 79,47 | 1,60 |
| 18 | Đất chưa sử dụng | 11,17 | 0,22 |
| 19 | Hồ, ao, đầm | 17,45 | 0,35 |
| 20 | Sông, suối, kênh rạch | 171,23 | 3,44 |
2.8. Hiện trạng hạ tầng xã hội
Hiện trạng hạ tầng xã hội trong khu vực phân đoạn 3 còn thiếu và phân tán, chưa đáp ứng yêu cầu đô thị hóa nhanh:
+ Giáo dục: Hệ thống trường học các cấp đã hình thành tại các xã, phường, nhưng quy mô nhỏ, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu về dân số. Trong phạm vi của khu quy hoạch chỉ có 1 trường trung học phổ thông.
+ Y tế: Chủ yếu là trạm y tế xã, quy mô hạn chế, dịch vụ khám chữa bệnh còn đơn giản, chưa có bệnh viện khu vực.
+ Văn hóa – thể thao: Các nhà văn hóa, sân thể thao phân bố tại các thôn, xã, phục vụ quy mô cộng đồng nhỏ, thiếu các công trình văn hóa, thể thao cấp đô thị.
+ Thương mại – dịch vụ: Mới dừng ở chợ dân sinh và cửa hàng nhỏ lẻ, chưa hình thành trung tâm thương mại hay dịch vụ lớn.
2.8.1. Cơ quan trụ sở
Hiện tại trong khu vực nghiên cứu tập trung nhiều công trình uỷ ban nhân dân xã, phường cũ trước khi sát nhập đơn vị hành chính. Nhiều trụ sở chưa đạt chuẩn về diện tích đất công trình công cộng theo quy chuẩn xây dựng. Thiết kế chưa thích ứng với xu hướng chính quyền điện tử, đô thị thông minh. Công trình cũ xuống cấp, cảnh quan và công trình phụ trợ còn đơn giản, chưa tạo được không gian hành chính – công cộng hiện đại.
| STT | Danh mục công trình | Địa điểm sau sáp nhập | Diện tích (ha) |
|---|---|---|---|
| 1 | Ủy ban nhân dân xã Vân Côn cũ | Xã An Khánh | 0,4 |
| 2 | Ủy ban nhân dân xã Đông La cũ | Xã An Khánh | 0,3 |
| 3 | Ủy ban nhân dân phường Yên Nghĩa cũ | Phường Yên Nghĩa | 0,4 |
| 4 | Ủy ban nhân dân phường Đồng Mai cũ | Phường Yên Nghĩa | 0,8 |
| 5 | Ủy ban mặt trận tổ quốc Đồng Mai | Phường Yên Nghĩa | 0,2 |
| 6 | Ủy ban nhân dân xã Bích Hoà cũ | Xã Bình Minh | 0,2 |
| 7 | Ủy ban nhân dân xã Bình Minh cũ | Xã Bình Minh | 0,2 |
| 8 | Ủy ban nhân dân xã Tam Hưng cũ | Xã Tam Hưng | 0,6 |
| 9 | Ủy ban nhân dân xã Thanh Thuỷ cũ | Xã Tam Hưng | 0,5 |
| 10 | Chi cục dự trữ nhà nước Thanh Oai | Xã Tam Hưng | 0,8 |
2.8.2. Công trình văn hoá, thể dục thể thao
Hầu hết các khu dân cư của thôn, tổ dân phố trong khu vực quy hoạch đều có nhà văn hoá, sân bóng. Được phân bố rải rác trong các khu dân cư nhưng quy mô nhỏ, xuống cấp, kiến trúc đơn giản, chủ yếu là khối nhà hội trường, có gác lửng hoặc phòng phụ trợ. Chưa gắn kết tốt với không gian mở và hệ thống cây xanh, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.
2.8.3. Hệ thống các công trình thương mại – dịch vụ, dịch vụ du lịch
Khu vực quy hoạch không có các công trình dịch vụ thương mại lớn, chủ yếu là các công trình dịch vụ tự phát của người dân để phục vụ việc mua bán thiết yếu hàng ngày. Trung tâm khu vực quy hoạch có chợ đầu mối Thanh Oai (quy mô 4,5ha), đây là điểm trung chuyển nông sản từ các huyện ngoại thành và các tỉnh lân cận vào nội đô Hà Nội. Vai trò chính: trung tâm bán buôn và phân phối.
Vị trí khu vực quy hoạch ven sông Đáy có cảnh quan đẹp, tuy nhiên chưa được khai thác nên không phát triển về dịch vụ du lịch.
2.8.4. Công trình văn hóa – di sản
Trong ranh giới phân đoạn 3, hệ thống di sản văn hóa và tín ngưỡng phân bố khá dày đặc, gắn với lịch sử lâu đời của các làng xã ven sông. Các công trình đình, chùa, nhà thờ, miếu và đền vừa có giá trị kiến trúc, vừa là không gian sinh hoạt văn hóa – tâm linh quan trọng của cộng đồng dân cư
Sơ đồ phân bố các công trình Văn hóa – di sản trong khu vực quy hoạch
Mật độ phân bố: Nhiều di tích hiện diện trải dài dọc theo trục sông Đáy và các tuyến trục đường xương cá của làng. Một số cụm di tích có quy mô lớn, hình thành trung tâm văn hóa – tâm linh của làng xã.
Loại hình đa dạng: Bao gồm đình làng (Đình Kim, Đình Thanh Lương, Đình thôn Đồng Lao…), chùa cổ (Chùa Vân Côn, Chùa Đại Bi, Chùa Đồng Dương, Chùa Linh Quang, Chùa Từ Am…), nhà thờ Công giáo (Nhà thờ Mai Lĩnh, Nhà thờ Thạch Bích, Nhà thờ Đồng Lao…), cùng các đền, miếu nhỏ gắn với tín ngưỡng dân gian.
Giá trị văn hóa – lịch sử: Các di sản này phản ánh bản sắc văn hóa nông thôn vùng ven đô phía Tây Hà Nội, gắn liền với đời sống tâm linh, phong tục, lễ hội truyền thống của cộng đồng địa phương.
Thực trạng: Nhiều công trình vẫn được duy trì sử dụng thường xuyên, tuy nhiên một số di tích xuống cấp, chưa được trùng tu đúng mức, chưa khai thác gắn với phát triển du lịch – dịch vụ văn hóa.

2.8.5. Cơ sở y tế
Hiện tại trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là các trạm y tế xã, phường. Kiến trúc công trình dạng nhà 1–3 tầng, công năng chủ yếu tập trung vào khám bệnh thông thường, tiêm chủng mở rộng,… Nhiều trạm đã xuống cấp sau nhiều năm sử dụng, quy mô cơ sở vật chất nhỏ, khả năng cung ứng dịch vụ chưa đáp ứng kỳ vọng của người dân.
| STT | Danh mục công trình | Địa điểm sau sáp nhập | Diện tích (ha) |
|---|---|---|---|
| 1 | Trạm y tế Vân Côn | Xã An Khánh | 0,2 |
| 2 | Trạm y tế Đông La | Xã An Khánh | 0,2 |
| 3 | Trạm y tế Đồng Mai | Phường Yên Nghĩa | 0,05 |
| 4 | Trạm y tế Bích Hoà | Xã Bình Minh | 0,2 |
| 5 | Trạm y tế Bình Minh | Xã Bình Minh | 0,2 |
| 6 | Trạm y tế Thanh Thuỷ | Xã Tam Hưng | 0,2 |
2.8.6. Giáo dục đào tạo
Trong khu vực quy hoạch hiện có hệ thống trường học các cấp tương đối đầy đủ, bao gồm trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở tại hầu hết các xã, phường; riêng bậc trung học phổ thông thiếu chỉ có 1 trường THPT Thanh Oai B. Hai trường dạy nghề là Cao đẳng nghề Simco sông Đà và trung tâm GDNN-GDTX Thanh Oai.
Phân bố trường học tương đối đồng đều giữa các khu dân cư, tuy nhiên một số khu vực hiện tượng quá tải lớp học, trong khi các khu dân cư mới hình thành chưa được bố trí quỹ đất trường học tương xứng.
Phần lớn công trình trường học được xây dựng qua nhiều giai đoạn, quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản, thấp tầng (1–3 tầng). Một số trường đã được cải tạo, xây mới theo tiêu chuẩn trường học đạt chuẩn quốc gia, có thiết kế hiện đại, kết hợp cảnh quan cây xanh, sân chơi, khu thể dục thể thao. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạng mục xuống cấp, công trình cũ thường chưa đáp ứng yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, tiêu chuẩn tiếp cận người khuyết tật, hay thiết kế thân thiện môi trường.
2.9. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật
2.9.1. Hiện trạng giao thông
a)
Giao thông đối ngoại
* Đường bộ:
– Đại lộ Thăng Long (CT3): Từ nút giao với Vành Đai 3 đến Hòa Lạc, chiều dài qua khu vực 2,7km, lộ giới 140m, 6 làn cao tốc và đường gom song hành 2 bên.
Vành đai 4 (CT38): Dự án tuyến đường đang được triển khai xây dựng, đoạn đi qua khu vực có chiều dài khoảng 20km, lộ giới 120m gồm phần đường bộ 90m và hành lang cho tuyến đường sắt quốc gia 30m.
– Quốc lộ 6: nối Hà Nội với các khu vực Tây Bắc, đoạn qua khu vực có chiều dài 2,2km, lộ giới 12-15m, mặt đường đang xuống cấp, cần được cải tạo và nâng cấp.
– Quốc lộ 21B: đoạn qua khu vực có chiều dài 4,7km, lộ giới 12-16m, dự án cải tạo mở rộng tuyến đang được triển khai với lộ giới 35m.
– Đường tỉnh 427B: chiều dài qua khu vực 7,7km, lộ giới 12-15m.
– Đường DT.72: chiều dài qua khu vực 2,1km, lộ giới 7-9m.
– Đường trục phía Nam: Tuyến kết nối khu vực trung tâm Hà Nội với khu vực phía Nam. Đoạn qua khu vực có chiều dài 3,4km, lộ giới 40m.
– Đường trục kinh tế Thanh Oai, chiều dài qua khu vực 4,9km, lộ giới 23-25m.
b)
Giao thông nội bộ
– Các tuyến đường liên xã: đường Đại Thành lộ giới 6m; đường Thanh Thảo lộ giới 9m; đường Muỗi lộ giới 6m; đường Bình Minh lộ giới 5-6m; đường Đông Dương lộ giới 5-12m…
– Tuyến đường đê Sông Đáy đang được cải tạo, mở rộng, lộ giới 8m.
– Các tuyến đường thôn, xóm có lộ giới 3-7m.
2.9.2. Hiện trạng chuẩn bị kỹ thuật
a)
Hiện trạng cao độ nền xây dựng
Hiện nay đê tả Đáy phòng chống lũ với cao trình H 9,8-12,0m, là đê cấp I.
Đê hữu Đáy có cao trình 8.0-10.0m, là đê cấp III, đảm bảo đủ khả năng chống lũ với mực nước thiết kế.
Theo Quyết định số 1821/QĐ-TTg Quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều hệ thống sông Đáy, QH Thủ đô:
Thoát lũ tần suất lũ 2% đồng thời chuyển lũ 2.500m³/s vào sông Đáy.
Không Gian thoát lũ sông Đáy: theo tuyến đê hiện có. Một số đoạn đê quy hoạch cắt cong (Sài Sơn; Yên Sơn – hữu Đáy và Song Phương, Yên Nghĩa – tả Đáy) thì không gian thoát lũ sẽ đi theo tuyến đê quy hoạch.
b)
Hiện trạng cao độ nền xây dựng:
Khu vực mang đặc điểm của vùng đồng bằng thấp ven sông. Nhờ phù sa bồi đắp nên ba phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng, nằm ở tả sông Đáy và hữu sông Nhuệ. Địa hình thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, độ cao trung bình từ 4,0 đến 15,0m so với mực nước biển; phần lớn diện tích khu vực nằm trong khoảng cao độ từ 5m đến 8m (chiếm 70,0%), độ dốc nhỏ hơn i<5% .
Khu vực có địa hình dốc vừa khoảng 0,4%. Hướng dốc theo hướng từ Bắc xuống Nam ra các sông, kênh nội đồng. Hướng dốc thuận lợi cho thoát nước.
Cao độ nền khu dân cư thôn Vân Côn, Phụng Châu từ 8.5-11m
Cao độ nền khu dân cư Yên Nghĩa, Phú Lương từ 4,0-7,0m
Cao độ các trục đường giao thông chính từ 9-12m
Cao độ các khu vực canh tác từ 3-7m; Cao độ ao hồ đầm <5m
Phân bố cao độ nền của khu vực lập quy hoạch
Nhận xét:
Khu vực khu dân cư xây dựng ổn định và hầu như không bị úng ngập.
Khi mưa lớn nước thoát không kịp thường gây ngập úng nội đồng dọc các kênh và ruộng trũng. Trong ranh giới quy hoạch chịu sự tác động của việc điều tiết nước mưa từ nội đô thoát vào, bên cạnh đó các kênh tiêu chưa được đấu nối hoàn trả kịp thời khi
xây dựng đô thị. Dẫn đến ình trạng ngập úng và cao độ nền không có sự tiếp cận dẫn dòng, gây ảnh hưởng tiêu cực trên diện rộng cả trong và ngoài lưu vực.
Trong quá trình nghiên cứu quy hoạch cần bố trí các hồ điều hòa tại vị trí cốt nền thấp và cải tạo nối liền mạch các trục kênh, sông đang bị bồi lấp.
c)
Hiện trạng thoát nước mặt
Khu vực Tây Bắc chủ yếu tiêu tự chảy ra sông Đáy thông qua hệ thống Đào Nguyên, La Khê. Bao gồm kênh dẫn. cống điều tiết và trạm bơm tiêu.
Phần trong nội đồng (trong đê Tả Đáy) hiện tại được tiêu tự chảy và động lực ra sông Nhuệ, sông Đáy thông qua kênh Sài, Cầu tre, Trạm bơm Thanh Thủy, Thanh Văn.

Mạng lưới thoát nước mặt và mối liên hệ với các khu vực ngoài ranh giới
(phía đông vành đai 4)
d) Đánh giá đất xây dựng:
Căn cứ nền đo đạc địa hình, hiện trạng dân cư, mặt nước. Đánh giá phân loại đất xây dựng thành các loại sau:
| TT | Phân loại | Diện tích (ha) | Chiếm tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Đất hiện trạng đã xây dựng | 1443.6 | 29.0 |
| 2 | Đất thuận lợi xây dựng, không bị ngập úng | 946.2 | 19.0 |
| 3 | Đất ít thuận lợi do ngập <1m | 1352.8 | 27.2 |
| 4 | Đất không thuận lợi cho xây dựng do ngập, H ngập >1m | 1045.8 | 21.0 |
| 5 | Mặt nước, khu vực hạn chế xây dựng ở ven mặt nước | 191.6 | 3.8 |
| Tổng | 4980.0 | 100.0 |
Khu vực có quỹ đất thuận lợi chiếm tỷ lệ không nhiều, quỹ đất đã xây dựng chiếm tỷ lệ ở mức 30%, tuy nhiên tỷ lệ đất ít thuận lợi do ngập và không thuận lợi chiếm ở tỷ lệ khá nhiều. Vì vậy cần bố trí quỹ đất hợp lý, tạo sự cân bằng để đảm bảo thoát nước.
Với khu vực phía Nam có địa hình thấp hơn, có các kênh thủy lợi và hồ, trạm bơm…, ưu tiên bố trí công viên, hồ điều hòa…để giảm khối lượng san đắp nền và tạo không gian sinh thái cho khu vực.
Khu vực ngoài đê sông Đáy cần có biện pháp cải tạo nền để đảm bảo khả năng thoát nước, tuy nhiên cần lưu ý tới việc phân bố của các khu dân cư hiện có để lựa chọn giải pháp đảm bảo an toàn và ổn định cho khu vực.
2.9.3. Hiện trạng cấp điện
– Nguồn cấp điện cho khu vực nghiên cứu được cấp điện từ hệ thống lưới điện chung của khu vực thành phố Hà Nội. Khu vực được cấp điện trực tiếp từ trạm 110KV Tây Hà Nội – 2x63MVA cách khu vực nghiên cứu khoảng 2.5 km về phía tây và trạm 110KV Hà Đông – 3x63MVA cách khu vực nghiên cứu khoảng 2,2 km về phía đông.
– Lưới điện:
+ Lưới điện cao thế: Khu vực nghiên cứu hiện tại có các tuyến điện cao thế sau
Tuyến điện 220KV xuất phát từ thanh cái trạm 220KV Quốc Oai đến trạm 220KV Hà Đông. Đoạn đi qua khu vực nghiên cứu dài khoảng 9km.
Tuyến điện 110KV xuất phát từ thanh cái trạm 110KV Tây Hà Nội đến trạm 110KV Hà Đông, đoạn đi qua khu vực nghiên cứu dài khoảng 3km.
+ Lưới điện trung thế: trong khu vực nghiên cứu sử dụng cấp điện áp 22kV, đa số các tuyến điện sử dụng cáp đi nổi treo trên cột trôn trên vỉa hè.
+ Lưới điện hạ thế và chiếu sáng : Lưới hạ thế chủ yếu đi nổi trên cột. Lưới điện chiếu sáng được xây dựng tại các tuyến đường chính trong khu vực.
– Trạm điện: Sử dụng trạm treo trên cột, cấp điện áp sử dụng 22/0,4KV.
2.9.4. Hiện trạng viễn thông thụ động
– Nguồn tín hiệu: hiện khu vực nghiên cứu được cấp mạng từ hệ thống mạng thông tin tổng đài Hà Nội thông qua các điểm bưu cục: Hà Đông, Quốc Oai, Ứng Hoà.
– Mạng cáp: Khu vực nghiên cứu được xây dựng mạng thế hệ tiếp theo (NGN), cáp quang được triển khải rộng khắp. Hệ thống cáp chủ yếu được sử dụng loại cáp treo trên cột bê tông hoặc đi chung cột với hệ thống điện hạ thế trong khu vực.
– Mạng thông tin di động: 100% khu vực có sóng thông tin di động. Cột ăng ten thu phát sóng di động đạt tỷ lệ 0,71 km/cột, đang được xây theo 3 loại chính A2a, A2b và A2c. Hiện trạng dùng chung cơ sở hạ tầng giữa các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế.
2.9.5. Hiện trạng cấp nước
a.
Nhà máy nước
Khu vực quy hoạch được cấp nước từ NMN Sông Đà, NMN Sông Đuống, NMN Hà Đông 1 và NMN Hà Đông 2 tới.
Nhà máy nước sông Đà công suất 300.000 m3/ngđ nguồn nước sông Đà
Nhà máy nước sông Đuống công suất 300.000 m3/ngđ nguồn nước sông Đuống
Nhà máy nước Hà Đông 1 công suất 22.000 m3/ngđ nguồn nước ngầm
Nhà máy nước Hà Đông 2 công suất 20.000 m3/ngđ nguồn nước ngầm
b.
Mạng lưới cấp nước
Mạng lưới cấp nước hiện có bao gồm các tuyến ống cấp nước truyền dẫn, tuyến ống cấp nước phần phối chính và các tuyến ống cấp nước phân phối khu vực
Tuyến ống cấp nước truyền dẫn hiện có D1800mm, D1600mm từ NMN Sông Đà tới
Tuyến ống cấp nước truyền dẫn hiện có D50000mm từ NMN Hà Đông 2 tới
Tuyến ống cấp nước phân phối chính hiện có D500mm, D400mm
Tuyến ống cấp nước phân phố khu vực hiện có D300mm, D200
c.
Hiện trạng sử dụng nước
Khu vực quy hoạch đã được cấp nước từ hệ thống cấp nước thành phố
2.9.6. Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải
Khu vực nghiên cứu chưa có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt hoàn chỉnh. Nước thải sinh hoạt sau khi được xử lý bằng bể tự hoại được thoát vào hệ thống thoát nước chung.
+ Đối với khu vực làng xóm cũ: nước thải một phần được thu gom làm phân bón, một phần thoát theo rãnh hoặc các vệt trũng ra ao, mương hiện có sau đó chảy ra hệ thống các mương tiêu chính rồi cuối cùng đổ ra sông.
+ Nước thải từ cơ sở sản xuất, các cụm công nghiệp trên địa bàn cũng chỉ mới xử lý sơ bộ qua bể tự hoại rồi ra môi trường chưa đảm bảo vệ sinh môi trường.
Đánh giá hiện trạng: Hiện thành phố đang thực hiện dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải mới. Tương lai cần sớm xây dựng nhà máy xử lý nước thải để thu gom toàn
bộ nước thải khu vực này về trạm xử lý tập trung để xử lý đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả ra kênh thoát nước.
2.9.7. Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn
Khu vực thôn, xóm, khu phố đã thành lập tổ vệ sinh môi trường, trang bị xe thu gom rác thải tuy nhiên tình trạng vứt rác bừa bãi vẫn diễn ra gây ô nhiễm môi trường cục bộ.
Một phần chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom triệt để và chất thải rắn nông nghiệp được người dân tự xử lý bằng phương pháp đốt hoặc chôn lấp.
Đánh giá hiện trạng: Tỷ lệ thu gom khá cao, tuy nhiên vẫn chưa triệt để một phần CTR được người dân xử lý tại chỗ. CTR sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn phát thải.
2.9.8. Hiện trạng nghĩa trang
Hiện trạng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn nằm xen kẽ trong khu dân cư, đất nông nghiệp với quy mô diện tích khoảng hơn 40 ha. Các nghĩa trang chủ yếu chưa đầu tư về hạ tầng, chưa đảm bảo khoảng cách ly.
Đánh giá hiện trạng: Hệ thống nghĩa địa xen kẽ trong khu vực dân cư làng xóm cần có giải pháp khoanh vùng để không mở rộng thêm, dừng chôn mới, cải tạo cảnh quan đảm bảo an sinh xã hội và nguyện vọng của dân cư.
2.10. Rà soát, đánh giá các chương trình, đồ án quy hoạch, dự án đầu tư liên quan đến phạm vi quy hoạch
2.10.1. Phân loại theo đồ án, dự án
Khu vực nghiên cứu hiện có khoảng 28 đồ án và dự án đầu tư đang tồn tại dưới nhiều hình thức và giai đoạn triển khai khác nhau. Có thể phân loại thành hai nhóm chính: nhóm quy hoạch chi tiết với 17 đồ án (chiếm 54,8%) và nhóm dự án đầu tư, đấu giá quyền sử dụng đất với 11 dự án (chiếm 45,2%).
Sự đa dạng này phản ánh tính phức tạp và mức độ chi tiết cao trong công tác quy hoạch khu vực, đồng thời cho thấy sự quan tâm đầu tư từ nhiều phía.







